“Thiết kế cửa hút khí mới ở tốc độ dưới âm có tính năng nâng cao từ khoảng 3% đến 8% so với thiết kế ban đầu, còn tính năng ở dải tốc độ từ 1 đến 2 lần tốc độ âm thanh thì tăng hơn 10%.”
“So với thiết kế cửa hút khí của MiG-21MF vốn tăng kích thước nón hút khí để lắp radar, tính năng trong toàn bộ dải tốc độ nâng cao ít nhất 23% trở lên, hơn nữa bên trong phần thân trước hình nón có thể chứa được radar có đường kính tối đa 560mm. Tính toán theo các mẫu hiện có, kích thước này đủ để khóa mục tiêu kích cỡ máy bay chiến đấu ở khoảng cách khoảng 30-40 km.”
Mặc dù những nội dung trước đó vô cùng tối nghĩa khó hiểu, nhưng những chỉ số dữ liệu cuối cùng mà Thường Hạo Nam nhắc tới thì các bạn học có mặt ở đây đều có thể hiểu được.
Vì vậy, phía sau giảng đường vốn im phăng phắc khi nghe giảng về quá trình thiết kế bỗng chốc sôi trào trở lại.
Vào giữa thập niên 90, tác chiến ngoài tầm nhìn là đề tài cấp bách nhất mà Không quân cần giải quyết, có thể nói việc có hay không có năng lực tác chiến ngoài tầm nhìn chính là khoảng cách giữa số 0 và số 1.
Cũng chính vì thế, trong một thời gian rất dài, “máy bay mũi nhọn” có thể lắp radar đường kính lớn chính là đại từ đại diện cho sự tiên tiến, chỉ có số lượng ít ỏi J-8B và Su-27 là có đặc điểm này.
Mà hôm nay, bọn họ lại được tận mắt nhìn thấy một mẫu J-7 cải tiến cũng sở hữu đặc điểm này và có thể lắp đặt radar!
Đừng nhìn con số 30-40 km có vẻ không lớn, phải biết tên lửa không đối không AIM-7F chủ lực của quân đội Mỹ thập niên 90 có tầm bắn tối đa khi tấn công trực diện cũng chỉ 40 km mà thôi. Mẫu Aspide mà nước ta mua từ Ý cũng như mẫu PL-11 sao chép cải tiến trên cơ sở đó có tầm bắn chỉ 30 km, cho nên phần mũi 560mm này ở thời điểm hiện tại đã hoàn toàn đủ dùng.
Đó là còn chưa kể trên cơ sở này, tính năng bay của máy bay không những không giảm đi mà trái lại còn được cải thiện!
“Mẫu J-7 cải tiến này nếu kết hợp với PL-11 thì đã gần tương đương với F-16 rồi còn gì! F-16 mang AIM-7 cũng chỉ bắn được tầm ba mươi mấy cây số thôi.” Phần lớn người học hàng không đều có chút hiểu biết về Không quân.
“Ừm, chỉ có điều về mặt tầm bay có thể vẫn còn khoảng cách nhất định, dù sao kích thước máy bay đã hạn chế rồi.” Một người khác có vẻ lý trí hơn, nhưng trong giọng điệu rõ ràng cũng mang theo vẻ phấn khích.
“Xời, tầm bay ngắn thì có vấn đề gì, chúng ta đâu có đi bắt nạt người khác như tụi Mỹ. Tôi thấy nhé, nếu hồi đầu năm chúng ta có 200 chiếc, à không, chỉ cần 100 chiếc J-7 cải tiến này thôi, hai cụm tàu sân bay kia chắc chắn không dám ngang ngược như thế!”
Câu nói này lập tức nhận được sự đồng tình tuyệt đối của những người xung quanh.
Mặc dù nền công nghiệp hàng không nước ta còn tương đối lạc hậu, nhưng J-7 thì vẫn có thể cung cấp thoải mái, chỉ là các mẫu J-7 hiện tại chế tạo ra đã lạc hậu rồi nên mới chỉ duy trì sản xuất số lượng nhỏ mà thôi.
Nhất thời, tuy quan điểm của mọi người vẫn chưa hoàn toàn thống nhất, nhưng gần như tất cả mọi người trong giảng đường đều bắt đầu bàn tán về tính năng, chi phí, độ khó chế tạo và thậm chí cả triển vọng trang bị cho bộ đội của chiếc máy bay này.
Trên thực tế không chỉ các sinh viên ngồi phía sau, ngay cả mấy vị giảng viên giám khảo cũng bắt đầu cân nhắc xem mẫu cải tiến này liệu có thực sự có khả năng đưa vào thực tế hay không.
“Cậu Thường này, thiết kế của cậu tuy vẫn còn vài điểm cần hoàn thiện, nhưng đứng ở góc độ cá nhân tôi thì chẳng còn gì để hỏi nữa rồi. Nếu để tôi đích thân ra tay, chắc chắn cũng không đưa ra được phương án nào tốt hơn thế này.”
Giáo sư Lý Quang lớn tuổi nhất trong bốn vị giám khảo tháo kính lão ra nói, ánh mắt nhìn Thường Hạo Nam tràn đầy vẻ hài lòng: “Cho nên tôi muốn hỏi một chút, cậu cảm thấy chiếc máy bay này về mặt chế tạo thì còn vấn đề gì cần giải quyết không?”
Đây gần như là lời đánh giá không thể cao hơn được nữa. Phải biết môn học này chỉ yêu cầu thực hiện thiết kế khí động học mà thôi, vấn đề về mặt chế tạo hoàn toàn không nằm trong phạm vi đánh giá.
Mà Thường Hạo Nam từ sớm đã có chuẩn bị cho câu hỏi này.
“Em chào Giáo sư Lý, vấn đề này chúng em ngay từ đầu khi thiết kế đã cân nhắc tới rồi ạ. Mẫu cải tiến này có 60% linh kiện có thể dùng chung với mẫu nguyên bản, yêu cầu tính năng của các linh kiện mới nhìn chung cũng không vượt quá trình độ của MiG-21MF. Tuy nhiên xét đến trọng lượng của radar, để duy trì cân bằng khí động học, ở phần cửa hút khí và chụp radar cần phải ứng dụng một số vật liệu composite để giảm trọng lượng, lượng dùng chiếm khoảng 2% tổng vật liệu thân máy bay.”
Lượng dùng 2% vật liệu composite đối với nền công nghiệp hàng không Hoa Hạ không còn là điều mới mẻ, trước đó trên J-7M, J-8B và JH-7 đều đã từng tích lũy kinh nghiệm.
Vì vậy câu trả lời này về cơ bản tương đương với câu “chẳng còn vấn đề gì cần giải quyết nữa”, nhưng nói thẳng ra như vậy thì lại có vẻ thiếu khiêm tốn, nên anh mới tìm một vấn đề vốn chẳng phải vấn đề để trả lời.
“Tôi thấy nếu có điều kiện thì có thể chế tạo một mô hình thu nhỏ, mang sang bên Miên Dương thổi hầm gió thử xem sao?”
Giọng của Lưu Hồng Ba không lớn lắm, hơn nữa là nói với ba vị giảng viên còn lại, nhưng vẫn có người nghe được câu này.
Hầm gió ở Miên Dương đâu phải chuyện đùa như mấy phòng thí nghiệm trong trường, sang bên đó thử nghiệm, dù chỉ là một mô hình thu nhỏ, cũng đồng nghĩa với việc phương án thực sự có khả năng đâm chồi nảy lộc ngoài đời thực.
Phải biết đây chỉ là một bài tập lớn môn học của sinh viên năm ba mà thôi!
Tiếng thảo luận vốn đã lắng xuống đôi chút lại một lần nữa rộ lên, chỉ có điều lần này, sự chú ý của nhiều người hơn đã dồn hết lên người Thường Hạo Nam.
Rõ ràng, hai chữ học bá đã không còn đủ để hình dung về một người như thế này nữa rồi.
Ở một góc phía sau giảng đường, vẻ mặt u ám của Hoàng Chí Cường hoàn toàn lạc lõng với bầu không khí sôi nổi hừng hực trong phòng học. Chiếc thủy phi cơ do nhóm cậu ta thiết kế đã hoàn toàn bị mọi người vứt ra sau đầu.
Cậu ta bỗng cảm thấy có chút đắng chát, nhưng ngay sau đó là sự tức giận dâng trào.
Hồi năm nhất, trường có mở môn tin học bắt buộc, Hoàng Chí Cường nhớ rất rõ khi đó Thường Hạo Nam ngay cả bàn phím gõ còn chưa thạo.
Lịch học các môn chuyên ngành của khoa Máy bay vào năm hai và kỳ một năm ba chẳng khác nào địa ngục, mỗi ngày đến thời gian ngủ còn không đủ, hơn nữa Thường Hạo Nam lúc đó hầu như đều lên lớp và tự học cùng mọi người, căn bản không thể có thời gian tự học vi tính được.
Trong hoàn cảnh như vậy, đến kỳ hai năm ba, sao cậu ta đột nhiên lại tinh thông lập trình máy tính và mô phỏng tính toán như thế?
Vì vậy Hoàng Chí Cường nghiễm nhiên nghĩ đến một khả năng: bọn họ đã nhờ viện trợ từ bên ngoài.