Vương Dương nhân lúc Hắc Hán không để ý, liền nhặt một hòn đá dưới đất giấu vào trong tay áo.
“Công tử, phía trước chính là Bát Doanh của chúng tiểu nhân rồi!” Hắc Hán dừng bước, chỉ tay về phía trước.
“Bát Doanh?” Vương Dương giật mình, chẳng lẽ lừa mình đến một quân doanh khác?
Hắc Hán có chút ngượng ngùng nói: “Bởi vì chúng tiểu nhân là binh hộ, người nhà đều phải chịu sự quản thúc của doanh thự, sống tập trung một chỗ, cho nên nơi chúng tiểu nhân ở còn gọi là Doanh thôn. Chúng tiểu nhân thuộc doanh thứ tám, tức là thôn Bát Doanh.”
Vương Dương sực nhớ ra, thời Lục Triều thì “binh hộ” còn có một tên gọi khác là “doanh hộ”[1], có lẽ chính là bắt nguồn từ mô hình cư trú này.
Thôn Bát Doanh tuy mang chữ Doanh, nhưng thực chất hoàn toàn không thấy bóng dáng quân doanh đâu. Nhìn từ xa chỉ là một dải nhà tranh rách nát, giữa các căn nhà còn dựng đủ loại khung gỗ căng màn vải, bên trên phơi quần áo chăn màn, mặt đất ẩm ướt đen sì như bùn, trông vô cùng bẩn thỉu lộn xộn.
Nhà Hắc Hán nằm ở rìa thôn, xung quanh không có công trình dựng tạm nào, trông có vẻ hơi lạc lõng so với cả thôn Bát Doanh. Kỳ lạ hơn là trời đã tối đen, trong thôn đã lác đác thắp đèn, chỉ riêng nhà Hắc Hán là tối om như mực.
Hắc Hán còn cách nhà sáu bảy bước chân đã cất tiếng gọi lớn: “A Ngũ! Tiểu A Ngũ của phụ thân!”
Vương Dương không biết đây có phải tín hiệu phát cho đồng bọn hay không, bèn nắm chặt hòn đá trong tay áo, âm thầm cảnh giác.
Chỉ nghe thấy tiếng chạy huỳnh huỵch của một đứa trẻ, sau đó cạch một tiếng, cánh cửa liếp bật mở!
Một bóng dáng nhỏ bé lao vụt ra ngoài, nhào thẳng vào lòng Hắc Hán: “Phụ thân! Nữ nhi còn tưởng phải đợi một tháng nữa mới được gặp phụ thân chứ!”
Vương Dương ngẩn ngơ: *Hóa ra là về nhà thật à!*
Hắc Hán mặt mày rạng rỡ niềm vui, bế bổng nữ nhi lên xoay một vòng trên không trung, khiến cô bé cười khúc khích, mái tóc dài bay lượn trong gió.
Hắc Hán kéo nữ nhi lại: “A Ngũ! Nhà ta có khách quý tới! Mau, mau hành lễ! Gọi Vương công tử đi!”
Đây là một cô bé vừa đen vừa gầy, mái tóc đen tuy dài nhưng có chút hoe vàng, nhìn chỉ tầm năm sáu tuổi. Có lẽ vì quá gầy nên đôi mắt trông to khác thường, lại thêm quần áo quá rộng thùng thình, chiếc áo bào xám cũ rách mặc trên người cô bé trông như trùm một cái bao tải lớn, kéo dài quét tận mắt cá chân.
“Kính chào Vương công tử!” Cô bé hào phóng cúi người hành lễ, không hề có chút e dè sợ sệt người lạ như những đứa trẻ bình thường khác.
Vương Dương cúi người xuống: “Ngươi tên A Ngũ phải không, là chữ Ngũ nào thế?”
Sắc mặt cô bé khẽ biến đổi, nhìn sang phụ thân.
Hắc Hán vỗ vai nữ nhi: “Con đi chuẩn bị đồ ăn đãi Vương công tử trước đi, phụ thân lát nữa vào phụ giúp con.”
Cô bé nhìn thoáng qua Vương Dương, nép sát vào phụ thân, lí nhí hỏi: “Phải chuẩn bị món ăn thật ngon sao ạ?”
Hắc Hán ngượng ngùng gật đầu: “Đương nhiên rồi, Vương công tử là khách quý, con đi chuẩn bị bát đũa trước đi, phụ thân vào ngay.”
Cô bé vâng dạ một tiếng rồi chạy tót vào trong nhà.
Hắc Hán vẻ mặt đầy khó xử, ấp úng nói: “Có một chuyện trách tiểu nhân quên chưa thưa trước với công tử, nhưng công tử đã đến đây rồi, tiểu nhân cũng không dám giấu giếm. Nữ nhi của tiểu nhân... con bé...”
Vương Dương tò mò hỏi: “Nữ nhi của ngươi làm sao?”
“Con bé... con bé là Song Ngũ nhi.”
“Cái gì?” Vương Dương nghe không hiểu.
Câu hỏi này lọt vào tai Hắc Hán lại ngỡ là sự bất mãn, vội vàng ôm quyền thỉnh tội: “Xin công tử ngàn vạn lần đừng tức giận! Nếu công tử kiêng kỵ, chúng ta sẽ tìm chỗ trọ khác!”
“Kiêng kỵ? Kiêng kỵ cái gì? Ngươi vừa nói Song Ngũ nhi là thế nào?” Vương Dương cảm thấy khó hiểu vô cùng.
“Công tử chưa từng nghe nói về Song Ngũ nhi sao? A Ngũ... A Ngũ sinh vào... vào ngày mùng năm tháng năm.”
Vương Dương nhớ tới một phong tục thời cổ đại: Ngày mùng năm tháng năm, không nuôi con.
Dân gian mê tín coi ngày mùng năm tháng năm (tức tết Đoan Ngọ) là “ngày dữ”, do đó phát triển ra đủ loại hoạt động trừ tà khử uế.
Thời hiện đại nếu sinh vào tết Đoan Ngọ thì đó là em bé Đoan Ngọ may mắn. Nhưng thời bấy giờ lại coi là điềm gở, cho rằng đứa trẻ sinh ngày Song Ngũ sẽ làm tổn hại đến cha mẹ thậm chí người khác. Cho nên người ta đều tận lực tránh sinh nở vào ngày mùng năm tháng năm, nếu bất đắc dĩ sinh ra thì phần nhiều cũng đem vứt bỏ không nuôi.
Vương Dương đương nhiên không tin mấy thứ này, liền nói: “Điều kiêng kỵ Song Ngũ thuần túy là chuyện vô căn cứ. Mạnh Thường Quân chẳng phải cũng sinh vào ngày mùng năm tháng năm sao, chẳng phải vẫn lưu danh sử sách đấy thôi!”
Hắc Hán mừng rỡ: “Tiểu nhân biết ngay công tử học vấn uyên bác! Sẽ không để ý đến những chuyện này mà!”
Vương Dương cười nói: “Chuyện này thì liên quan gì đến học vấn uyên bác?”
“Biết càng nhiều thì lòng dạ con người càng rộng mở chứ sao! Đâu giống như đám người trong thôn chúng tiểu nhân...” Khóe miệng Hắc Hán thoáng hiện vẻ cay đắng, ngay sau đó lại cười nói: “Haiz, không nhắc tới nữa! Công tử có thể kể cho tiểu nhân nghe về vị đại nhân vật họ Mạnh kia được không, sau này tiểu nhân còn có chuyện để đem ra nói với người khác.”
[1]: Tên gọi “Doanh hộ” có liên quan đến việc vợ con gia quyến sống tập trung theo doanh trại, cũng liên quan đến việc hộ tịch của họ thuộc quyền quản lý của doanh thự.
[2]: Bối cảnh vật giá được xây dựng dựa trên mặt bằng chung thời Đông Tấn Nam Bắc Triều. Tác phẩm “Nhan Thị Gia Huấn” có ghi lại một viên Lãnh quân bủn xỉn định mức ăn uống sớm tối của nô bộc là mười lăm tiền một ngày. Hắc Hán lấy ra ba mươi ba tiền, nếu muốn ăn thì vẫn có thể cùng nhân vật chính ăn tạm một bữa.