[3]: Người thời Nam Bắc Triều thích thêm chữ “A” vào tên thân mật, như “A nùng”, “A nô”, “A nhi”, “A gia”...

[4]: Mạnh Thường Quân thực chất mang họ Quy, thị Điền, tên Văn, không phải họ Mạnh.

Nhà Hắc Hán rất nhỏ, chỉ có hai gian phòng con xám xịt. Gian phía tây có bếp nấu kiêm nhà kho, gian phía đông có một chiếc giường đất, miễn cưỡng coi là phòng ngủ.

Trong gian phòng phía tây, tiểu A Ngũ đang đứng trên một tảng đá lớn, tất bật bên cạnh bếp lò.

Vương Dương thấy A Ngũ nhỏ bé như vậy, dưới chân phải kê đá mới với tới mặt bếp, liền muốn tiến lại giúp đỡ. Nhưng nghĩ tới thân phận sĩ tộc đang ngụy trang, hắn lại nhịn xuống, hỏi Hắc Hán: “A Ngũ năm nay bao nhiêu tuổi rồi?”

“Bẩm công tử, con bé năm nay bảy tuổi rồi ạ.”

Có lẽ do suy dinh dưỡng, cô bé này quá đỗi gầy gò nhỏ bé, thực sự không giống một đứa trẻ bảy tuổi. Vương Dương không khỏi cảm thán: “Bé thế này mà đã biết nấu cơm rồi.”

“Nha đầu nhà tiểu nhân biết lo liệu việc nhà từ sớm, bình thường những việc vặt này đều do một mình con bé quán xuyến.” Hắc Hán vừa nói vừa mời Vương Dương sang gian phòng phía đông, ngồi lên chiếc giường đất mà y vừa mới trải lại nệm rơm.

“Nương của con bé đâu?”

Hắc Hán thở dài, hạ giọng nói: “Nương nó chê A Ngũ sinh vào ngày mùng năm tháng năm, khăng khăng đòi vứt A Ngũ xuống sông. Tiểu nhân không đồng ý liền cãi nhau một trận to, tiểu nhân nhất thời không nhịn được đã ra tay đánh nàng ta, sau đó... sau đó thì ly hôn...”

Hắc Hán không nói tiếp nữa, dừng lại một chút rồi cười khổ: “Nghe nói nàng ta hiện giờ đã gả cho một người bán nến, dọn đến Kiến Khang rồi, ngày tháng trôi qua chắc là sung túc lắm.”

Thời đó những gia đình bình thường đều không dùng nổi nến, cho nên khi Hắc Hán biết người kia là thương nhân buôn nến thì hiểu ngay nàng ta bây giờ không thiếu tiền tiêu.

Vương Dương trong lòng cảm khái, lại hỏi: “Vậy mỗi khi ngươi đến quân doanh thì chỉ có một mình A Ngũ ở nhà thôi sao?”

“Đúng vậy! Ban đầu tiểu nhân cũng nhờ hàng xóm láng giềng trông nom giúp, nhưng hàng xóm chẳng ai chịu đến. Cũng may A Ngũ vừa thông minh vừa biết tranh đấu, có thể tự chăm sóc bản thân. Tháng trước tiểu nhân về nhà, công tử đoán xem thế nào? Hì, con bé ngay cả việc may vá thêu thùa cũng tự học được rồi đấy!” Hắc Hán thắp ngọn đèn dầu bằng đất nung lên, ánh sáng yếu ớt soi rọi gương mặt tràn đầy tự hào của y.

Vương Dương đã quen thấy vẻ khúm núm cười làm lành của Hắc Hán, đây là lần đầu tiên thấy y đắc ý kiêu hãnh đến thế.

Giọng cô bé từ gian phòng phía tây truyền sang: “Phụ thân! Ngoài trời có trăng sáng mà! Thắp đèn làm gì thế? Mau tắt đi!”

Hắc Hán có chút lúng túng, nói lớn: “Đây là thắp cho Vương công tử!”

Giọng cô bé im bặt vài giây, sau đó lại vang lên: “Phụ thân, qua đây bưng cơm giúp con với.”

Sau đó Vương Dương nghe thấy tiếng hai phụ tử tranh luận nho nhỏ, âm lượng rất thấp, nội dung nghe không rõ mồn một, nhưng loáng thoáng nghe thấy cô bé nói “dầu trẩu không còn nhiều nữa” gì đó.

Vương Dương mỉm cười, thổi tắt ngọn đèn dầu. Tiếng tranh luận ở gian phòng phía tây lập tức im bặt.

Hắc Hán vội vã chạy sang: “Đèn bị tắt rồi sao? Tiểu nhân thắp lại cho công tử ngay.”

Vương Dương nói: “Không cần đâu, có ánh trăng là đủ rồi.”

Sắc mặt Hắc Hán lập tức căng thẳng, ấp úng nói: “Công tử, nha đầu nhà tiểu nhân thường ngày quen thói hoang dã, chẳng hiểu phép tắc gì cả! Công tử ngàn vạn lần đừng chấp nhặt với con bé!”

Vương Dương cười xòa không để bụng: “Sao lại thế được? Hiện tại ta vừa không đọc sách vừa không viết chữ, đúng là không cần thắp đèn, có ánh trăng là đủ rồi.”

Hắc Hán sợ Vương Dương phật ý, đang định giải thích thêm thì tiểu A Ngũ đã chạy tới: “Phụ thân! Vương công tử! Dùng bữa thôi ạ!”

Đây là bữa ăn thứ hai của Vương Dương sau khi xuyên không: một bát cháo đậu mạch, một bát canh lá đậu, một đĩa đậu đen ướp muối.

Cháo đậu mạch là dùng đại đậu nấu cùng đại mạch. Canh lá đậu dùng lá đậu khô, còn gọi là “hoắc thái”. Còn đậu đen ướp muối chính là “đậu xí”, là gia vị ăn kèm cơm rất phổ biến của bách tính thời bấy giờ.

“Không phải bảo con nấu cơm đậu mạch sao? Sao lại nấu thành cháo rồi?” Hắc Hán kéo tiểu A Ngũ sang một bên, nhỏ giọng hỏi.

A Ngũ nhăn cái mũi nhỏ lại: “Tổng cộng chỉ có ngần ấy mạch thôi, con muốn để dành đến tết Hàn Thực mới nấu cháo đại mạch mà.”

“Con bé này thật là!” Hắc Hán không nỡ trách mắng nữ nhi, chỉ khẽ gõ nhẹ vào trán cô bé.

Y không dám ngồi cùng bàn với Vương Dương, bèn dẫn tiểu A Ngũ ngồi tựa vào mép bếp lò.

Vương Dương biết rõ nếu muốn sắm vai sĩ đại phu cho giống thì tốt nhất nên giữ khoảng cách với bọn họ. Nhưng hắn đang ở nhờ nhà người ta, ăn cơm của người ta, thực sự ngại ngùng không muốn chiếm chỗ như chủ nhân. Hắn liền cất lời gọi Hắc Hán và cô bé cùng lại ăn.

Đến khi nhìn sang hai người, hắn mới biết thức ăn của họ không giống của mình.

Hai phụ tử họ ăn hạt đậu hấp. Thời cổ đại miêu tả người nghèo có câu “hàm thục ẩm thủy”, “hàm thục” chính là nhai hạt đậu để lót dạ.

Tiểu A Ngũ vừa ăn vừa lén nhìn phần cơm của Vương Dương, dù sao cô bé cũng đã hơn một tháng nay chưa được ngửi thấy mùi thơm của cháo mạch, còn món canh hoắc thái thì đã lâu lắm rồi chưa được nếm qua.

Vương Dương bắt gặp ánh mắt thèm thuồng của A Ngũ, liền hỏi: “Muốn ăn không?”

Tiểu A Ngũ vội vàng lắc đầu, cắm cúi lùa đậu vào miệng.

“Lại đây, khẩu vị ta không tốt, chia cho ngươi một ít.”

“Không cần đâu ạ.” Tiếng tiểu A Ngũ nhỏ như tiếng muỗi kêu, cô bé sợ không chống cự nổi sự cám dỗ nên đến đầu cũng không dám ngẩng lên.

Hắc Hán khuyên: “Công tử đói cả ngày rồi, mau ăn đi ạ, đừng bận tâm đến con bé.”