Quy Nhất

Chương 46. Đạo sĩ huyền bí (2)

Thông báo

Địa chỉ WEB hiện tại của Tiên Vực là https://tienvuc.site. Trong trường hợp không thể truy cập được, bạn hãy vào https://tienvuc.link để xem địa chỉ mới nhất và tải ứng dụng.

Ngô Trung Nguyên hiện tại rất nhạy cảm với ngọc thạch, và càng nhạy cảm hơn với loại ngọc thạch trắng. Không đợi Lý tiên sinh nói hết câu, cậu đã vội vàng hỏi: "Miếng ngọc thạch trắng đó trông như thế nào?"

"Đó là một loại ngọc đặc biệt, trắng mịn tinh khiết, không nhìn thấy cấu trúc bên trong." Lý tiên sinh cong ngón cái và ngón trỏ để ra hiệu về kích thước: "Nặng khoảng tám mươi gam, hình dạng không được quy tắc cho lắm."

"Là trắng tinh hay trắng xám?" Ngô Trung Nguyên nghi hoặc hỏi dồn. Miếng ngọc mà Lý tiên sinh miêu tả chính là loại cậu từng thấy trước đó, chỉ có điều màu sắc hơi khác một chút. Miếng ngọc cậu lấy ra từ mộ chim người, miếng mà Ngô Truy nhét cho cậu, hay miếng được chôn theo Ngô Thiên Sơn đều có màu trắng xám.

"Trắng tinh, một màu trắng tinh khiết hiếm thấy. Trước đây tôi chưa từng thấy loại ngọc nào tương tự như vậy, chắc hẳn đó là một chủng loại ngọc đặc biệt nào đó." Lý tiên sinh nói.

Ngô Trung Nguyên tuy còn nhiều thắc mắc nhưng không hỏi thêm ngay lập tức mà giơ tay ra hiệu cho Lý tiên sinh lái xe.

Lý tiên sinh hiện giờ đang rất căng thẳng, mồ hôi vã ra liên tục. Để ông tập trung lái xe, Ngô Trung Nguyên không vội truy hỏi chi tiết câu chuyện. Mãi cho đến khi xuống núi, ra đến đường lớn, cậu mới bắt đầu hỏi về lai lịch của miếng ngọc đó.

Giờ đây Lý tiên sinh dĩ nhiên sẽ không giấu giếm Ngô Trung Nguyên điều gì, ông đem toàn bộ câu chuyện kể lại ngọn ngành.

Thực ra Lý tiên sinh đã bắt đầu kinh doanh từ trước khi dời mộ cho cha mẹ, chỉ là khi đó ông làm lĩnh vực khác, thuộc diện có chút tiền lẻ chứ chưa phải đại gia. Khi có chút tiền dư dả, Lý tiên sinh bắt đầu sưu tầm cổ vật. Thực tế lúc ấy ông cũng chỉ làm theo phong trào, vì mấy năm trước cơn sốt đồ cổ bùng nổ, sưu tầm cổ vật được coi là con đường tắt để phát tài.

Thời điểm đó Lý tiên sinh cũng không có quá nhiều tiền nên không thể tham gia các buổi đấu giá. Ông sưu tầm đồ cổ theo lối bình dân, đó là thiết lập quan hệ với những tiểu thương bày sạp ở chợ văn hóa. Những tiểu thương này đôi khi sẽ về các vùng nông thôn, đi khắp các ngõ ngách để thu mua đồ cũ. Chỉ cần mua được món nào trông có vẻ ra hồn, họ sẽ gọi điện hỏi ông có hứng thú hay không.

Món đồ sắt kia chính là có nguồn gốc như vậy. Ban đầu nó được một người nông dân tình cờ phát hiện ở ngoài đồng. Người nông dân này tuy không biết đó là vật gì nhưng cũng nhận ra nó có lai lịch, không nỡ bán theo giá sắt vụn nên đã đòi gã tiểu thương năm nghìn tệ.

Trong mắt gã tiểu thương, cổ vật bằng kim loại thực thụ phải là đồ đồng xanh chứ không phải đồ sắt. Vì vậy gã nghi ngờ món đồ này là giả, nhưng người nông dân kia cứ khăng khăng đây chắc chắn là đồ cổ, tuyệt đối không sai được, còn bảo gã hãy mời chuyên gia tới xem.

Thế là gã tiểu thương tìm đến Lý tiên sinh. Nhưng Lý tiên sinh cũng chỉ là kẻ tay ngang, không dám chắc món đồ là thật hay giả. Sau khi xác định Lý tiên sinh có khả năng chi trả, người nông dân hỏi nếu ông ta có thể chứng minh đây là đồ cổ thì Lý tiên sinh có chắc chắn mua hay không.

Lý tiên sinh đưa ra câu trả lời khẳng định, thế là người nông dân dẫn ông tới nơi phát hiện ra món đồ sắt này. Đó là ở dưới chân một ngọn núi cao, tại đó có một khối đá hình vuông khá lớn. Khối đá đã bị đục vỡ, bên trong rỗng tuếch. Người nông dân chỉ vào khối đá và nói với Lý tiên sinh rằng món đồ sắt kia vốn được bọc kín bên trong khối đá này.

Lý tiên sinh lo ông ta nói dối nên đã hỏi tại sao tự nhiên lại đập vỡ tảng đá này. Người nông dân trả lời rằng mấy năm gần đây ngành xây dựng phát triển, ngay cả đá cũng bán được tiền. Lúc nông nhàn ông ta thường lái máy kéo đến chân núi nhặt đá bán cho người ta xây nhà làm móng. Tảng đá này quá lớn ông ta khuân không nổi, nên đã dùng mấy cái đục đóng vào để làm vỡ đá.

Nghe ông ta nói vậy, Lý tiên sinh cảm thấy cũng hợp lý nên đã quan sát kỹ tảng đá đó. Tảng đá có hình vuông, chiều dài, rộng, cao đều khoảng một mét năm. Ở bốn mặt của khối đá có rất nhiều đường nét và hoa văn mờ nhạt.

Một mặt của tảng đá có một lỗ hổng hình vuông do con người đục ra. Xung quanh khu vực rỗng bên trong khối đá có những vết rỉ sét màu xanh và vụn rỉ sắt. Từ đó Lý tiên sinh nhận định tảng đá này được người xưa đục đẽo ra để cất giữ món đồ sắt kia. Bên ngoài món đồ sắt ban đầu có lẽ còn có một chiếc hộp bằng đồng, nhưng do thời gian quá lâu, hộp đồng đã bị rỉ sét mục nát hết.

Dù không biết vật này rốt cuộc là gì và có tác dụng ra sao, nhưng Lý tiên sinh biết chắc nó có niên đại lâu đời. Thế là ông trả cho người nông dân năm nghìn tệ để mua lại món đồ sắt đó.

Sau khi mua về, Lý tiên sinh bắt đầu nghiên cứu. Vật này có hình tròn, bên ngoài có những hoa văn rất cổ xưa. Lý tiên sinh không phải là nhà sưu tập chuyên nghiệp nên không hiểu nổi, bèn chụp ảnh gửi cho người khác để thỉnh giáo. Có chuyên gia nói với ông rằng vật này họ chưa từng thấy bao giờ, nhưng loại tương tự thì họ đã từng gặp, hậu thế gọi là Âm Dương Cầu. Loại cầu này rất phổ biến vào thời Ngụy Tấn, gồm hai phần có thể vặn mở ra được. Các gia đình giàu có thời cổ đại đa số đều mê tín đan dược, vật này chính là dùng để đựng đan dược.

Dưới sự gợi ý của người khác, Lý tiên sinh thử loại bỏ rỉ sắt để mở Âm Dương Cầu ra. Bên trong quả cầu sắt chính là miếng ngọc thạch kia.

Tâm trạng của Lý tiên sinh lúc đó cũng tương tự như người nông dân kia, miếng ngọc thạch này được cất giấu bí mật như vậy thì chắc chắn là đồ tốt không nghi ngờ gì nữa. Nhưng ông lại không hiểu nổi miếng ngọc này rốt cuộc là thứ gì. Ông đã thỉnh giáo nhiều chuyên gia về ngọc thạch nhưng cũng không ai nhận ra, cuối cùng đành phải gác lại một bên.

Chuyện trôi qua hơn một năm, có người tìm đến tận cửa. Đó là một đạo sĩ trung niên nói giọng ngoại tỉnh, sau khi đến nơi đã trực tiếp đề nghị đổi lấy quả cầu sắt mà Lý tiên sinh đã mua năm đó.

Người này mang tới không phải tiền mặt mà là vàng, nặng chừng mười mấy cân. Lý tiên sinh cảm thấy nghi hoặc bèn hỏi về công dụng của quả cầu sắt kia, nhưng gã đạo sĩ trung niên không nói rõ, chỉ liên tục nhấn mạnh rằng vật đó đối với ông không có tác dụng gì, nhưng lại rất hữu ích với ông ta.

Đạo sĩ này mang theo một thanh kiếm bên người, giọng điệu khi nói chuyện cũng rất lạnh lùng. Lý tiên sinh không dám đắc tội, lại sợ số vàng kia lai lịch bất minh nên cũng không dám nhận.

Gã đạo sĩ trung niên dường như đoán được nỗi lo của Lý tiên sinh nên đã đề nghị không chỉ tặng vàng mà còn giúp ông chỉ điểm phong thủy nhà cửa.

Sau một hồi do dự, Lý tiên sinh đã giao quả cầu sắt cho gã đạo sĩ nọ.

Lấy được quả cầu, đạo sĩ rời đi và quay lại sau đó nửa năm.

Kể từ khi gã đạo sĩ đó rời đi, Lý tiên sinh luôn sống trong lo âu phấp phỏng. Ông thừa hiểu rằng sớm muộn gì đối phương cũng sẽ phát hiện bên trong quả cầu sắt không có gì, lúc đó rất có thể sẽ quay lại trả thù mình. Vừa thấy đối phương trở lại, không đợi ông ta lên tiếng đòi, ông đã chủ động giao ra miếng ngọc thạch, chỉ nói rằng trước đó không cố ý giữ lại mà là do người nhà lấy ra nghịch rồi quên không để lại chỗ cũ.

Đạo sĩ nhận lấy miếng ngọc cũng không làm khó ông. Để đáp lễ, ông ta còn chỉ ra vị trí đầm nước lúc nãy, bảo rằng chỉ cần an táng tổ tiên ở đó thì nhất định sẽ có được phú quý.

Sau khi Lý tiên sinh kể xong, Ngô Trung Nguyên rơi vào trầm tư. Cậu học khảo cổ nên có hiểu biết chuyên môn hơn Lý tiên sinh. Đồ sắt cực kỳ hiếm gặp vào thời kỳ thượng cổ trở về trước, khi đó chủ yếu là đồ đồng xanh. Sở dĩ có tình trạng này là vì trình độ luyện kim thời cổ đại rất hạn chế. Điểm nóng chảy của đồng là tám trăm độ, trong khi sắt là một nghìn năm trăm độ, khó tinh luyện hơn đồng rất nhiều. Vật hiếm thì quý, chính vì ít nên sắt mới trở nên giá trị.

Miếng ngọc thạch kia đã được cất giữ trong hộp sắt, điều này chứng tỏ người cất giấu khi đó cực kỳ coi trọng nó.

Ngoài ra, rất có thể còn một nguyên nhân khác. Theo những gì ghi chép trong cuốn sách sư phụ để lại, tất cả kim loại đều có thể bị khí tức xuyên thấu, ngoại trừ sắt. Đối phương dùng quả cầu sắt để bảo quản ngọc thạch, cực kỳ có khả năng là để bảo vệ miếng ngọc không bị khí tức bên ngoài ảnh hưởng, hoặc là để phong tỏa không cho khí tức của chính miếng ngọc thoát ra ngoài.

Nghĩ đến đây, cậu chợt bừng tỉnh đại ngộ. Miếng ngọc bảo quản trong hộp sắt có màu trắng tinh là bởi vì nó chưa từng được sử dụng. Còn những miếng cậu từng thấy trước đây có màu trắng xám là do khí tức và năng lượng ẩn chứa bên trong đã bị tiêu hao mất một phần.

"Tiểu Ngô, ngoài việc nâng cao mực nước đầm, chú còn cần phải làm gì khác nữa không?" Lý tiên sinh lo lắng hỏi.

Ngô Trung Nguyên lắc đầu: "Tạm thời cháu vẫn chưa nghĩ ra."

"Sẽ không có tác dụng phụ gì chứ?" Lý tiên sinh lại hỏi.

"Tác dụng phụ chắc chắn là có." Ngô Trung Nguyên nói thẳng. "Năm đó chú không nên tự đắc cho là mình thông minh mà giữ lại miếng ngọc kia. Việc ông ta chỉ điểm vị trí âm trạch cho chú không phải là phần thưởng, mà là một sự trừng phạt."

Lý tiên sinh không hiểu đầu đuôi ra sao, kinh ngạc xen lẫn nghi hoặc nhìn Ngô Trung Nguyên.

Ngô Trung Nguyên chỉ tay về phía con đường trước mặt, nhắc ông chú ý quan sát lộ trình, sau đó mới nói: "Nói theo cách hiện đại thì miếng ngọc kia rất có thể mang tính phóng xạ. Khi rời khỏi quả cầu sắt, năng lượng ẩn chứa bên trong sẽ từ từ giải phóng. Tuy chú đã trả lại miếng ngọc cho ông ta, nhưng lại khiến năng lượng bên trong bị giảm sút. Việc ông ta biến tướng báo thù chú cũng là lẽ thường tình."

Lý tiên sinh hít một hơi lạnh: "Vậy phải làm sao bây giờ?"

"Để cháu suy nghĩ đã." Ngô Trung Nguyên thuận miệng đáp.

Lý tiên sinh cứ ngỡ Ngô Trung Nguyên đang lo nghĩ chuyện của mình, nhưng thực tế cậu đang suy ngẫm về chuyện cá nhân.

Miếng ngọc mà gã đạo sĩ kia tìm kiếm cực kỳ giống với những miếng cậu đang sở hữu và từng thấy qua, rất có thể chúng cùng xuất xứ từ một nơi nào đó trong cùng một thời kỳ. Dựa theo những manh mối hiện có, loại ngọc này khả năng cao là vật trung gian để đi vào lỗ sâu. Nếu gã đạo sĩ kia tìm kiếm nó, hẳn phải biết rõ công dụng của nó là gì.

Người đó là ai?

Hắn ta đến từ đâu?

Mục đích của hắn khi xuất hiện ở đây là gì?

Tại sao hắn lại biết công dụng của ngọc thạch?

Hắn tìm ngọc thạch để làm gì?

Tại sao miếng ngọc đó lại được giấu trong đá từ thời thượng cổ?

Làm sao hắn biết được vị trí chính xác của miếng ngọc?

Người này là bạn hay thù?

Nghi vấn trùng trùng, nhất thời khó lòng gỡ rối. Manh mối quá ít, cũng thật khó để suy luận ra điều gì.

"Người đó giọng vùng nào?" Ngô Trung Nguyên hỏi.

"Giọng ngoại tỉnh." Lý tiên sinh vội vàng trả lời.

"Ngoại tỉnh là tỉnh nào?" Ngô Trung Nguyên nhíu mày.

Lý tiên sinh ngẫm nghĩ hồi lâu: "Cụ thể là giọng vùng nào thì tôi không nghe ra được, tóm lại không phải người địa phương."

"Ông ta có ho không?" Ngô Trung Nguyên hỏi tiếp.

Lý tiên sinh nghe thấy nhưng không hiểu: "Cái gì?"

"Cháu hỏi chú, gã đạo sĩ đó có hay ho khạc gì không?" Ngô Trung Nguyên hỏi lại.

Lý tiên sinh nhớ lại một chút rồi lắc đầu: "Hình như là không."

"Số vàng ông ta đưa chú có ký hiệu gì không? Thuộc về triều đại nào?" Ngô Trung Nguyên lại hỏi.

Lý tiên sinh lại lắc đầu: "Không có ký hiệu, nhưng độ thuần khiết không cao, chắc là đồ cổ."

"Kiểu dáng thế nào? Vàng ở mỗi thời đại khác nhau thì kiểu dáng cũng khác nhau." Ngô Trung Nguyên bất lực lắc đầu. Cái ông chú này đến kiến thức lịch sử cơ bản cũng không có, đi làm sưu tầm cổ vật không lỗ vốn mới lạ.

"Có vàng thanh, có nguyên bảo, còn có cả vàng mã đề nữa." Lý tiên sinh nói.

Ngô Trung Nguyên gật đầu. Vàng mã đề thường thấy ở thời nhà Hán, đến thời Đường Tống mới bắt đầu xuất hiện nguyên bảo, còn vàng thanh thì xuất hiện muộn hơn. Điều này chứng tỏ số vàng người này mang theo thuộc về nhiều thời đại khác nhau.

"Gã đạo sĩ đó chắc là không tìm được nữa đâu." Lý tiên sinh vẫn luôn đinh ninh Ngô Trung Nguyên hỏi kỹ về gã đạo sĩ là để tìm người tháo chuông.

Ngô Trung Nguyên không tiếp lời: "Năm đó những hoa văn đường nét trên khối đá kia, chú có chụp ảnh lại không?"

"Có, tôi dùng máy ảnh chụp lại, ảnh vẫn còn giữ đây."

"Lái nhanh một chút, về tìm ra cho cháu xem..."