Đạo Sĩ Cuối Cùng (Bản dịch)

Chương 10. Những câu chuyện mở màn cho những câu chuyện 10

Thông báo

Địa chỉ WEB hiện tại của Tiên Vực là https://tienvuc.info. Trong trường hợp không thể truy cập được, bạn hãy vào https://tienvuc.link để xem địa chỉ mới nhất và tải ứng dụng.

Trà Văn Bân thở dài một tiếng "Haizz", nói: "Không ngờ lại thành ra thế này. Thi thể hai đứa trẻ này không thể đưa về làng được nữa, nếu không sớm muộn gì cũng gây ra ôn dịch. Giờ chỉ còn cách hỏa thiêu, lấy tro cốt tìm nơi khác an táng."

Ai cũng biết người chết thì phải phân hủy, nhưng bộ dạng hai đứa trẻ này... không phải ma quỷ lộng hành thì là gì? Sự việc đến nước này, chỉ còn biết trông cậy cả vào vị đạo sĩ này làm chủ, người ngoài nào ai dám ho he nửa lời.

Trà Văn Bân sai mọi người đi kiếm củi khô dựng một cái giàn hỏa thiêu ngay tại chỗ. Đợi giàn củi dựng xong, anh cho đặt hai thi thể lên, cắm ba nén nhang phía trước, nhìn lần cuối rồi châm lửa đốt. Lửa bùng lên, anh bắt đầu niệm chú vãng sanh, tiễn hai vong hồn tiểu quỷ xuống địa phủ trình diện.

Thiêu xong, anh thu liễm tro cốt, dẫn mọi người xuống núi, đem tro cốt hai đứa trẻ chôn cất bên cạnh đập nước, còn lập bia mộ đàng hoàng. Lúc xong việc trời đã tối mịt, Trà Văn Bân về nhà bà ngoại ăn cơm tối xong liền cáo từ ra về.

Đêm hôm đó dì Út nằm mơ, thấy hai đứa trẻ đến vái chào từ biệt, còn dặn dì nhớ cảm ơn vị đạo sĩ kia. Hôm sau bà ngoại lại tìm Trà Văn Bân giải mộng, anh gật đầu bảo hai con tiểu quỷ đó hẳn là đi rồi, đồng thời nhờ bà ngoại nhắn lại với dân làng, từ nay về sau tuyệt đối không được chôn cất người chết trên núi Mã Đầu nữa.

Mặc dù dì Út đã tai qua nạn khỏi, nhưng sau trận ốm thập tử nhất sinh ấy, sức khỏe dì cũng yếu đi nhiều, hay bị cảm mạo, mãi đến khi trưởng thành mới đỡ dần.

Trà Văn Bân sau vụ việc ấy cũng dần có chút tiếng tăm. Không ít gia đình có đám tang đều đến mời anh làm lễ siêu độ, nhưng anh chưa bao giờ nhận lấy một xu. Trong làng hễ có đứa trẻ nào trạc tuổi tôi bị kinh hãi (phải vía), đem đến tìm anh, Văn Bân thường chỉ đốt một lá bùa hòa vào nước cho uống là khỏi. Tất nhiên anh cũng am hiểu chút Trung y, đôi khi không phải trúng tà mà là bị bệnh thực sự, anh sẽ kê cho ít thuốc nam, bệnh nặng thì khuyên đi bệnh viện.

Thời đó, cũng có khá nhiều người đến xin bái sư, muốn theo anh học nghề, nhưng Trà Văn Bân tuyệt nhiên không nhận đệ tử. Ngày thường anh vẫn như bao người khác, xuống ruộng làm đồng, lên núi đốn củi. Nếu không có vụ việc của dì Út, có lẽ mọi người còn chẳng biết anh là một đạo sĩ.

Còn về phần tôi gặp được anh, đó đã là chuyện của rất nhiều năm sau này.

Năm ấy, khi tôi lên sáu tuổi, đã xảy ra một chuyện.

Làng chúng tôi nằm sâu trong vùng núi. Trong làng có một ngôi miếu rất lớn, được xây bằng loại gạch xám cổ. Nghe bố tôi kể, ngôi miếu này chẳng biết có từ triều đại nào, khi cụ cố tôi từ nơi khác chạy nạn đến đây thì nó đã sừng sững ở đó rồi, có điều lúc ấy đã chẳng còn ai hương khói quản lý. Trăm năm trôi qua, ngôi miếu càng trở nên hoang phế, điêu tàn.

Những năm sáu mươi của thế kỷ trước, phần lớn ngôi miếu đã bị người ta phóng hỏa thiêu rụi. Lửa cháy hừng hực nung đỏ cả tường gạch, duy chỉ còn lại tòa đại điện là không bị thiêu hủy. Dần dà, người trong làng xây nhà dựng cửa thường đến đó gỡ gạch về dùng. Nhưng chẳng hiểu ma xui quỷ khiến thế nào, nhà nào dùng gạch của ngôi miếu này để xây thì y như rằng rất dễ đổ sập, từng có một gia đình bị đè chết cả nhà. Về sau, người ta chỉ dám lấy gạch ở đó về xây chuồng lợn.

Nhà tôi cũng có một viên gạch lấy từ đó, hồi nhỏ tôi nghịch ngợm lỡ tay làm gãy đôi. Viên gạch ấy rất nặng, một mặt chạm khắc hình kỳ lân, mặt kia thì trơn láng. Theo cách gọi bây giờ thì đó là gạch phù điêu. Bố tôi hồi nhỏ đi chơi nhặt được mang về, và chuyện này có liên quan đến ngôi miếu kia... Nghe các cụ cao niên kể lại, ngôi miếu đó tên là Miếu Tướng Quân. Còn cái xó xỉnh rừng thiêng nước độc này từng xuất hiện vị tướng quân nào thì tôi chịu chết. Trong làng cũng có cả trăm hộ dân, nhưng đa phần đều là dân di cư từ nơi khác đến. Nghe đâu dân gốc ở đây đã bị giết sạch vào thời Thái Bình Thiên Quốc, thành thử càng chẳng ai biết lai lịch của Miếu Tướng Quân. May mà nó nằm ở đó cũng chẳng vướng víu đường đi lối lại của ai, nên mọi người cũng quen dần với sự tồn tại của nó.

Trẻ con nông thôn hồi ấy, ngoài chuyện trèo cây bắt chim, xuống sông mò tôm cá thì chỉ có trò trốn tìm. Tôi trời sinh to gan lớn mật, chẳng biết sợ là gì. Tôi có một thằng bạn nối khố kém tôi đúng một ngày tuổi tên là Lý Dịch. Hồi bé nó gầy nhom nên chúng tôi gọi nó là "Khỉ Còi".

Có lần tôi cùng Khỉ Còi ra Miếu Tướng Quân chơi. Ngôi miếu ấy lúc nào cũng toát ra một thứ mùi kỳ lạ, tôi không tả rõ được, hơi giống mùi ẩm mốc. Nếu ai từng vào những từ đường cổ, đặc biệt là những nơi có Nghĩa trang (nhà chứa xác chờ chôn cất), những nơi rộng lớn nhưng cửa đóng then cài quanh năm, sẽ ngửi thấy cái mùi tương tự. Nhưng lúc ấy tôi lại thấy tò mò với cái mùi đó vô cùng, cứ muốn tìm xem nó phát ra từ đâu.