Đạo Sĩ Cuối Cùng (Bản dịch)

Chương 15. Những câu chuyện mở màn cho những câu chuyện 15

Thông báo

Địa chỉ WEB hiện tại của Tiên Vực là https://tienvuc.info. Trong trường hợp không thể truy cập được, bạn hãy vào https://tienvuc.link để xem địa chỉ mới nhất và tải ứng dụng.

Tuy nhiên, do cái tên giáo môn quá mức chướng mắt, chính quyền nhà Thanh lùng bắt khắp nơi, nên họ dứt khoát đổi tên thành "Mao Sơn". Tại sao vậy? Bởi vì trong lịch sử Bạch Liên Giáo từng có một thủ lĩnh tên là "Mao Tử Nguyên", chữ Mao (茅) trong tên ông ta trùng với chữ Mao (茅) trong Mao Sơn, ngầm hợp ý đó. Nói đến đây, chắc mọi người cũng đã hiểu phần nào.

Còn có một phái "Mao Sơn" khác tương truyền tổ sư là Hòa thượng Đạn Tử. Nói cũng lạ, một pháp môn phù chú sao lại có tổ sư là hòa thượng? Truyền thuyết kể rằng vị hòa thượng này sinh ra từ một quả trứng trôi sông, trời sinh thần dị hơn người.

Hòa thượng Đạn Tử không chỉ có xuất thân ly kỳ mà vận mệnh sau này cũng vô cùng kỳ lạ. Nghe nói ông ta theo học pháp thuật trong "Như Ý Sách" của "Viên Công" ở núi Vân Mộng. Viên Công thực ra là một con vượn trắng, chính là nhân vật chính trong tích "Bạch Viên trộm đào". Chuyện kể rằng con vượn trắng này canh giữ bí kíp "Như Ý Sách" của Thiên Cung, cuốn sách này toàn bộ nói về phép thần thông biến hóa, hơn nữa phép thuật này vô cùng đơn giản, dễ học dễ hiểu.

Viên Công truyền nội dung trong sách cho Hòa thượng Đạn Tử, sau đó đốt bỏ cuốn sách. Thế là Hòa thượng Đạn Tử mang theo một thân bản lĩnh xuống núi khai tông lập phái. Vì vậy, phàm những phái nào giảng về phép thần thông biến hóa, bay trời độn đất đa phần đều xuất phát từ phái "Mao Sơn" này. Nhưng rốt cuộc tại sao môn phái này lại lấy tên là "Mao Sơn" thì không thể khảo chứng được. Chỉ biết pháp môn này chắc chắn có mối liên hệ mật thiết với hệ thống pháp thuật núi Vân Mộng.

Những điều trên đã hình thành nên các hệ phái Mao Sơn ở khắp các nơi hiện nay.

Xét theo ý nghĩa nghiêm ngặt, Mao Sơn Phái chính thống chỉ có một mạch thuộc Chính Nhất Đạo hiện nay, nhưng dòng mạch của Trà Văn Bân có thể coi như một đứa con rơi, có mối liên hệ tơ lòng vạn mối với Chính Nhất Đạo. Về sau do chiến tranh loạn lạc, Đạo gia Trung Quốc cũng dần đi vào cảnh tan đàn xẻ nghé trong dòng sông dài lịch sử. Người thực sự hiểu Đạo chỉ đếm trên đầu ngón tay, kẻ biết chút da lông đã dám tự xưng cao nhân, đi xem phong thủy, làm pháp sự cho người ta. Đạo sĩ và đạo quán ngày nay đã hoàn toàn biến chất thành nghề nghiệp kiếm cơm và điểm tham quan du lịch, người tiềm tâm tu đạo gần như tuyệt tích.

Quay lại chuyện chính. Chiều hôm đó, bố tôi mang theo dụng cụ cùng Trà Văn Bân đến Miếu Tướng Quân. Chỉ vài nhát búa đã đập tan ổ khóa đồng, tòa đại điện bị niêm phong không biết bao nhiêu năm lại một lần nữa mở ra trước mắt người đời. Một mùi ẩm mốc xộc lên mũi khiến hai người phải vội vàng bịt mũi. Quét mắt nhìn một lượt, ngoài cỗ quan tài sơn đỏ đặt giữa đại điện ra thì chẳng còn gì khác. Dù là ban ngày ban mặt, cảnh tượng này quả thực cũng đủ khiến người ta rợn tóc gáy.

Trà Văn Bân đi đầu bước vào. Khi chú ý tới những bức bích họa trên tường, anh tỏ ra khá ngạc nhiên, trầm tư một lát rồi chuyển ánh nhìn sang bức tường khác. Bức tường đó chính là nơi tôi nhìn thấy đầy những ký tự kỳ lạ, chỉ có điều anh nhìn nó chăm chú suốt cả buổi chiều, cứ như nhập định vậy. Bố tôi đứng bên cạnh nhìn anh như thế cũng chẳng dám ho he, chỉ biết đứng chôn chân ở đó. Mãi đến khi mặt trời xuống núi, Trà Văn Bân mới quay đầu bảo bố tôi: "Về thôi!"

Bố tôi cũng chẳng dám hỏi nhiều. Trà Văn Bân dặn bố tôi khóa cửa lại cho kỹ, bảo ông rằng anh phải về quê một chuyến, rồi đưa cho bố tôi một lá bùa dặn dán lên cổng lớn, đồng thời bảo bố trông chừng tôi, đừng để tôi chạy lung tung, vài ngày nữa anh sẽ quay lại. Trà Văn Bân cứ thế biến mất ba ngày. Mấy ngày đó, tình hình của tôi quả thực có vẻ thuyên giảm, ăn được chút ít, mẹ tôi như nhìn thấy hy vọng, cả ngày ở nhà cầu khấn Bồ Tát phù hộ. Ba ngày sau, Trà Văn Bân quay lại nhà tôi. Anh vào thăm tôi trước, rồi ra hiệu cho bố tôi ra ngoài nói chuyện.

Trà Văn Bân nói với bố tôi rằng, theo suy đoán của anh, ngôi Miếu Tướng Quân này có thể có hai lai lịch:

Giả thuyết thứ nhất được ghi chép trong cổ tịch. Anh đã về tra cứu cuốn sách chép tay sư phụ để lại và tìm thấy một đoạn như sau: Miếu Tướng Quân, trong miếu có tổ tượng Tam Thanh, thụy thú ẩn tường; kẻ làm tướng, sát tính quá hung, chuyển thành Sát, ưa đao thích máu, gọi là Huyết Sát. Sát sinh quá nhiều, thân đao mỗi lần thêm vong hồn, bản thân Huyết Sát lại tăng ba phần. Lâu ngày, sát khí bản thân như được tu luyện, ngấm vào huyết mạch, dung hòa một thân, thường nhập ma, thiên hạ khó khắc chế. Cho nên Thiên tử thường dùng Thiên tử Long khí trấn áp không nổi, bèn giết.

Kẻ thành Sát khi chết thường mang oán khí, nên sau khi chết thường bị hỏa táng bí mật. Nhưng hậu nhân có kẻ tài giỏi, trộm xác chôn vào núi sâu, thường mời đạo sĩ giải sát khí, dẫn oán khí. Cho nên thường lập miếu, đạo sĩ đời sau có kẻ khó lòng trấn áp, thường dùng chính khí Tam Thanh trấn áp, khắc thụy thú (thú lành) để tránh tai họa.